Mua Sách Online


List All Products


Advanced Search
Show Cart
Your Cart is currently empty.

Ai Đang Online?

Chúng ta có 1 khách Online
Trang Nhà
Toàn Vẹn Lãnh Thổ In E-mail
16/03/2008

Thích Giác Lượng

      Ôn lại lịch sử Việt Nam, từ thuở Lý, Trần các nhà vua nước ta giữ gìn Quốc thổ, không để mất một tấc núi sông. Đến đời nhà Lê năm 1473, vua nhà Minh sai sứ sang nước ta để giải quyết vấn đề biên giới phía bắc. Vua Lê Thánh Tông cử quan Thái Bảo, Kiểm Dương và Lê Cảnh Huy ra hội kiến với sứ Tàu. Trước khi các quan ra tiếp sứ, vua nói: “Các ngươi nên nhớ rằng: Một thước núi, một tấc sông của đất nước ta, không vì lẽ gì mà vứt bỏ. Các ngươi phải cương quyết tranh biện, chớ có cho giặc lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc, trình bày rõ điều hơn lẽ gian. Nếu các người dám đem một thước sông, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội tru di”.

  Xem thế đủ hiểu, vấn đề Quốc thổ là tối thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa từ ngàn xưa là của Việt Nam, đến thời cận đại vẫn là của Việt Nam được Quốc tế công nhận.

      Trong thế chiến lần thứ hai năm 1938, quân đội Nhật đã đổ bộ lên chiếm cứ quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, tự đổi tên là Hirota Ounta và dùng làm căn cứ hải quân cho tới khi chiến tranh kết thúc năm 1945. 

     Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Nhật Bản đã phải chính thức từ bỏ chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (Spratley) mà họ đã chiếm năm 1939 và đổi tên là (Shinnanngunto). Có lẽ vì lời tuyên ngôn Le Caire (Déclaration du 21 November  1943) không được minh bạch cho lắm và có sự ngộ nhận chăng?

      Tại Hội nghị ký hòa ước San Francisco, trưởng phái đoàn Việt Nam đã lên tiếng, long trọng xác nhận chủ quyền của Việt Nam một lần nữa như sau: “As we must frankly make use of any opportunity to stifle the germs of discord, we declare our right over the spratly and the paracels Island which, from the time immemorial have been part of Vietnam”. Nghĩa là: “Chúng ta phải chân thành lợi dụng cơ hội hầu diệt trừ một mầm móng bất hòa. Chúng tôi tuyên bố tái xác nhận chủ quyền của nước chúng tôi đối với hai quần  đảo Spratly và Paracels vốn là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam từ lâu đời”.

     Lời xác nhận chủ quyền này đã được tuyên bố vào ngày mồng  7 tháng 9 năm 1951. Và sau đó đã không hề xảy ra một phản ứng chống đối hoặc yêu sách nào cả ở Hội nghị có 51 phái đoàn của 51 Quốc gia tham dự. Lại nữa, điều 02 của hòa ước nói trên có hiệu lực “tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ” cho những quốc gia  trong những thời đã bị quân Nhật chiếm cứ. Do đó hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là bộ phận bất khả phân của Việt Nam (thuộc quốc gia Việt Nam.) (Dẫn sách Buổi mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp tại Việt Nam 1858-1897- trang 708 của Tiến sĩ  Nguyễn Xuân Thọ).

     Đến Hiệp Định đình chỉ chiến sự ở Đông Dương và tuyên bố cuối cùng của Hội nghị được ký kết tại Geneve ngày 21 tháng 7 năm 1954. Trong phòng họp lớn của cung các Quốc gia, người ta đã đặt cái bàn thành hình móng ngựa, long trọng  tuyên bố và xác nhận toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Những người đứng đầu Chính phủ Pháp, Thủ tướng Mendes France, Ngoại trưởng Liên Xô Molotov, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai v.v… Các nước tham gia Hiệp Định cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam,  Lào, và Campuchia.

      Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam quy định  lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự để lực lượng hai bên tập kết. Ranh giới  đó chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi là biên giới chính trị hay lãnh thổ.  Thời gian tổng tuyển cử để thống nhất đất nước được ấn định vào tháng 7 năm 1956. Nhưng vấn đề tuyển cử thống nhất đất nước, vì sao không thể thực hiện được là vấn đề nan giải, chúng tôi không bàn ở đây.

    Nhưng Chính quyền nào rồi cũng qua đi, còn dân và lãnh thổ là bất biến.

    Đất đai sông núi, Tổ Tiên ta đã đổ ra biết bao nhiêu là xương máu để bảo vệ, gìn giữ, thì không có một cá nhân nào, một tập đoàn, đảng phái nào, một chính quyền nào có quyền sang nhượng cho ngoại bang.

    Việc để mất Trường Sa , Hoàng Sa vào tay Trung Quốc là do những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, đứng đầu là Hồ Chí Minh.

    Hiện tại Trung Quốc đặt cơ sở hành chánh của họ trên hai  quần đảo của Việt Nam.

    Dân tộc ta đang đứng trước một nguy cơ mất nước, nên là người việt nam dù trong “Đạo” hay ngoài “Đời”, trong nước hay ngoài nước đều có bổn phận trong cơn quốc biến, là một tu sĩ Phật giáo mà các bậc tiền bối đã ý thức sâu sắc về sứ mạng của  các nhà tu hành trước vận mệnh của Tổ quốc.

     Phật giáo vào đời sống nhập thế là một truyền thống, các Ngài Định Không (1) Vạn Hạnh (2)  đã đặt quyền lợi của Đạo pháp nằm trọn vẹn trong quyền lợi của đất nước với chủ trương “Phật Giáo chỉ hưng thịnh trong một đất nước có chủ quyền” “Trụ kích chống. vương kỳ” (3) được biểu thị cho tinh thần và đưa đến các hành động: Làm cố vấn, Quốc Sư cố vấn như Ngài Viên Thông, Vạn Hạnh, Mãn Giác, cởi áo bào ra trận như Ngài Thượng Sĩ. Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông .

    Mô Phật, lặng lẽ, chúng tôi không phải là con cái của các Ngài.

Sa môn Thích Giác Lượng

(1)       Định Không (730- 808)

(2)       Vạn Hạnh (1018)

(3)       Lời Vua Nhân Tông tán Thiền Sư Mãn Giác, nghĩa là chống gậy thiền để giúp triều đính giữ gìn chủ quyền quốc gia.

Cập nhật ( 16/03/2008 )
 
Tiếp >

Web Counter

© 2010 The Phap Duyen Buddhist Homepage